Một bên không chịu ký biên bản hòa giải tranh chấp đất tại xã: luật xử lý ra sao, biên bản còn dùng được không, và bước tiếp theo là Tòa án hay Ủy ban nhân dân.

Buổi hòa giải ở xã kết thúc trong căng thẳng. Bên kia đứng dậy bỏ về, không chịu ký biên bản hòa giải. Nhiều người lo: vậy coi như chưa hòa giải? Có phải làm lại từ đầu không?

Bài viết trả lời theo đúng những gì Luật Đất đai 2024 quy định, và nói rõ chỗ nào luật chưa trả lời.

Vì sao biên bản hòa giải quan trọng

Khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024 quy định: tranh chấp đất đai mà các bên không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã nơi có đất để hòa giải. Đây là bước bắt buộc trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo Điều 236.

Biên bản là bằng chứng duy nhất cho thấy bước bắt buộc đó đã diễn ra. Phụ lục I Phần VIII Nghị định 151/2025/NĐ-CP xếp "biên bản hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã" vào hồ sơ giải quyết tranh chấp (điểm b mục I.3). Thiếu biên bản, hồ sơ nộp lên cấp trên dễ bị trả lại.

Biên bản hợp lệ thông thường gồm gì

Điểm d khoản 2 Điều 235 quy định việc hòa giải tại xã phải được lập thành biên bản. Biên bản phải có:

  • chữ ký của các bên;
  • xác nhận của UBND cấp xã về việc hòa giải thành hoặc hòa giải không thành.

Biên bản được gửi đến các bên tranh chấp và lưu tại UBND cấp xã nơi có đất.

Hội đồng hòa giải do Chủ tịch UBND cấp xã thành lập (điểm a, b khoản 2 Điều 235). Thời hạn hòa giải không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn (điểm c).

Khi một bên không ký biên bản

Điểm đ khoản 2 Điều 235 xử lý đúng tình huống này: trường hợp hòa giải không thành mà một hoặc các bên tranh chấp không ký biên bản, thì:

  1. Chủ tịch Hội đồng và các thành viên tham gia hòa giải phải ký vào biên bản;
  2. biên bản được đóng dấu của UBND cấp xã;
  3. biên bản được gửi cho các bên tranh chấp.

Nói cách khác, việc một bên không ký biên bản không làm buổi hòa giải trở nên vô hiệu. Biên bản vẫn được lập, có chữ ký của Hội đồng và dấu của UBND xã. Người muốn đi tiếp chỉ cần đề nghị xã hoàn tất đúng thủ tục ở điểm đ và gửi bản biên bản cho mình.

Ví dụ: ông A và bà B hòa giải về lối đi chung. Bà B không đồng ý phương án nào và từ chối ký. Hội đồng ghi rõ hòa giải không thành, Chủ tịch Hội đồng cùng các thành viên ký, UBND xã đóng dấu. Ông A nhận biên bản này và dùng nó cho bước tiếp theo.

Những tình huống luật chưa nói rõ

Một bên không đến dự hòa giải

Điểm đ chỉ nói về trường hợp có hòa giải nhưng không thành và có bên không ký. Khoản 2 Điều 235 không có câu riêng cho trường hợp một bên vắng mặt, được mời mà không đến. Cách xử lý cụ thể có thể nằm ở văn bản hướng dẫn mà chúng tôi chưa đối chiếu. Vì vậy bài này không khẳng định số lần mời hay cách lập biên bản trong trường hợp vắng mặt. Nên hỏi trực tiếp UBND xã cách họ lập biên bản, và đề nghị biên bản ghi rõ việc đã mời, ngày mời.

Hai bên đã đồng ý nhưng một bên không ký

Điểm đ chỉ áp dụng cho hòa giải không thành. Nếu tại buổi họp hai bên đã đồng ý miệng nhưng một bên không chịu ký, thì về hình thức biên bản không có chữ ký các bên theo điểm d. Rất khó coi đó là hòa giải thành. Trong thực tế, trường hợp này thường được ghi nhận là chưa đạt được thỏa thuận.

Có biên bản rồi, bước tiếp theo là gì

Hướng đi phụ thuộc vào giấy tờ đất của các bên, theo Điều 236 Luật Đất đai 2024:

  • Một bên có Giấy chứng nhận ("sổ đỏ") hoặc giấy tờ theo Điều 137, hoặc tranh chấp về tài sản gắn liền với đất: khởi kiện tại Tòa án (khoản 1 Điều 236).
  • Không ai có giấy tờ: được chọn nộp đơn tại UBND cấp có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án (khoản 2 Điều 236).

Nếu chọn UBND và các bên đều là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người giải quyết là Chủ tịch UBND cấp xã. Luật ghi chức danh cũ trước khi sắp xếp chính quyền hai cấp; điểm g khoản 2 Điều 5 Nghị định 151/2025 đã chuyển cho Chủ tịch UBND cấp xã. Nếu một bên là tổ chức, người giải quyết là Chủ tịch UBND cấp tỉnh (điểm b khoản 3 Điều 236).

Khi nộp đơn lên UBND, cơ quan giải quyết phải thông báo thụ lý (tức là nhận và chính thức xem xét đơn) trong 05 ngày làm việc (điểm a mục I.2 Phần VIII). Trong quá trình giải quyết, các bên còn có thể được mời hòa giải thêm (mục I.3).

Những điểm dễ vướng

  • Không nhận được bản biên bản. Điểm d và đ đều yêu cầu gửi biên bản cho các bên. Nếu chưa nhận, nên đề nghị UBND xã gửi bằng văn bản.
  • Biên bản không ghi rõ thành hay không thành. Đây là nội dung bắt buộc phải có xác nhận của UBND xã. Biên bản mơ hồ sẽ gây khó khăn ở bước sau.
  • Biên bản thiếu dấu. Với trường hợp có bên không ký, dấu của UBND xã là yếu tố luật đòi hỏi rõ.
  • Tự lập biên bản riêng. Biên bản hai bên tự viết khi tự hòa giải (khoản 1 Điều 235) không thay thế biên bản hòa giải tại UBND xã.

Nếu biên bản ông bà nhận được có chỗ chưa đúng, hoặc chưa biết nên đi tiếp đường nào, có thể liên hệ để luật sư xem bản biên bản và giấy tờ đất trước khi nộp đơn.

Căn cứ pháp lý

  • Luật Đất đai 2024 (Luật số 31/2024/QH15, văn bản hợp nhất 44/VBHN-VPQH): khoản 1, khoản 2 (các điểm a, b, c, d, đ) Điều 235; khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 236.
  • Nghị định 151/2025/NĐ-CP: điểm g khoản 2 Điều 5; Phụ lục I Phần VIII mục I.2 và I.3.