Tổ chức chưa có giấy chứng nhận phải tự kê khai hiện trạng và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Điều 142 cũng quy định các trường hợp bị thu hồi, trong đó có đất không sử dụng quá 12 tháng.

Với tổ chức, thủ tục cấp sổ đỏ lần đầu không bắt đầu bằng việc nộp đơn như hộ gia đình, mà bắt đầu bằng nghĩa vụ tự kê khai và báo cáo. Điều 142 Luật Đất đai 2024 quy định trình tự này.

Bước đầu tiên: tự kê khai và báo cáo

Khoản 1 Điều 142 buộc tổ chức đang sử dụng đất mà chưa được cấp giấy chứng nhận phải tự kê khai hiện trạng sử dụng đất và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có đất.

Đây là nghĩa vụ chủ động, không chờ cơ quan nhà nước yêu cầu.

Tỉnh kiểm tra thực tế rồi xử lý

Khoản 2 quy định: trên cơ sở báo cáo của tổ chức, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh kiểm tra thực tế sử dụng đất và xử lý theo năm nhóm.

Diện tích đang dùng đúng mục đích

Điểm a: nếu tổ chức có giấy tờ theo Điều 137 và đang sử dụng đúng mục đích, cơ quan có thẩm quyền xác định hình thức sử dụng đất và cấp Giấy chứng nhận. Nếu không có giấy tờ theo Điều 137 thì thực hiện theo hình thức sử dụng đất quy định tại các Điều 118, 119 và 120.

Riêng tổ chức thuộc diện Nhà nước cho thuê đất theo Điều 120, cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh phải làm thủ tục ký hợp đồng thuê đất trước khi cấp Giấy chứng nhận.

Thời hạn sử dụng đất được xác định thế nào

Điểm b quy định ba lớp:

  • Có giấy tờ theo Điều 137: thời hạn theo giấy tờ đó;
  • Giấy tờ không ghi thời hạn, hoặc có ghi nhưng không phù hợp pháp luật đất đai tại thời điểm đó: thời hạn xác định theo Điều 172;
  • Cách tính mốc: từ ngày 15/10/1993 nếu sử dụng đất trước 15/10/1993; từ ngày có quyết định giao đất, cho thuê đất nếu sử dụng từ 15/10/1993 trở về sau.

Sáu nhóm diện tích bị thu hồi

Điểm c liệt kê các diện tích mà Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi:

  • Đất sử dụng không đúng mục đích;
  • Đất bị lấn, bị chiếm;
  • Đất đã cho tổ chức khác, hộ gia đình, cá nhân thuê hoặc mượn sử dụng;
  • Đất đã liên doanh, liên kết trái pháp luật;
  • Đất không được sử dụng đã quá 12 tháng;
  • Đất có tiến độ sử dụng chậm đã quá 24 tháng.

Hai mốc 12 tháng và 24 tháng là con số cụ thể mà tổ chức nắm giữ đất cần theo dõi sát.

Đất đã bố trí cho cán bộ, công nhân viên làm nhà ở

Điểm d: diện tích tổ chức đã bố trí cho cán bộ, công nhân viên làm nhà ở trước ngày Luật này có hiệu lực thì phải bàn giao cho Ủy ban nhân dân cấp huyện để cấp Giấy chứng nhận cho người đang ở. Người sử dụng đất ở phải thực hiện nghĩa vụ tài chính.

Trường hợp riêng: doanh nghiệp nhà nước sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối đã cho hộ gia đình, cá nhân dùng một phần quỹ đất làm đất ở trước 01/7/2004 thì phải lập phương án bố trí lại thành khu dân cư, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt trước khi bàn giao cho địa phương quản lý.

Đất đang tranh chấp

Điểm đ: việc cấp Giấy chứng nhận chỉ thực hiện sau khi hoàn thành việc giải quyết tranh chấp.

Nhận chuyển nhượng dự án bất động sản

Khoản 3 quy định riêng: tổ chức nhận chuyển nhượng dự án bất động sản theo pháp luật về kinh doanh bất động sản, mà cả bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính, thì được xem xét cấp Giấy chứng nhận theo quy định của Chính phủ.

Điều tổ chức nên rà soát trước

Trước khi kê khai, nên tự soát ba nhóm rủi ro dẫn tới thu hồi: diện tích đang cho mượn hoặc cho thuê lại, diện tích bỏ trống quá 12 tháng, và các hợp tác liên doanh liên kết trên đất. Kê khai trung thực nhưng có phương án xử lý sẵn cho các diện tích này sẽ tốt hơn là để cơ quan kiểm tra phát hiện.

Quy định chung là một chuyện, hồ sơ cụ thể của ông bà lại là chuyện khác. Dịch vụ luật sư đất đai của chúng tôi đọc giấy tờ trước và nói rõ vụ việc đang đứng ở đâu.

Căn cứ pháp lý

Điều 142 Luật Đất đai 2024 (Luật số 31/2024/QH15).

Lưu ý: Bài viết tóm tắt quy định của Luật Đất đai 2024 (Luật số 31/2024/QH15) để bạn đọc tham khảo, không thay thế ý kiến của luật sư cho vụ việc cụ thể. Quy định về đất đai thay đổi nhanh; trước khi làm hồ sơ bạn nên kiểm tra lại văn bản còn hiệu lực hoặc hỏi cơ quan có thẩm quyền nơi có đất.