Ba hàng thừa kế theo pháp luật, nguyên tắc người cùng hàng hưởng phần bằng nhau, và bốn trường hợp phải chia theo pháp luật dù đã có di chúc.
Khi một người mất mà không để lại di chúc, di sản không tự động thuộc về người đang ở trên đất hay người chăm sóc lúc cuối đời. Bộ luật Dân sự chia theo hàng thừa kế, và thứ tự này không phụ thuộc vào công sức chăm sóc hay mong muốn của gia đình.
Khi nào phải chia theo pháp luật
Khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự liệt kê bốn trường hợp áp dụng thừa kế theo pháp luật:
- Không có di chúc.
- Di chúc không hợp pháp.
- Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
- Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Khoản 2 Điều 650 bổ sung một nhóm quan trọng: ngay cả khi có di chúc hợp pháp, vẫn phải chia theo pháp luật đối với phần di sản không được định đoạt trong di chúc, phần di sản liên quan đến phần di chúc không có hiệu lực, và phần liên quan đến người thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng, từ chối nhận, hoặc chết trước.
Nói cách khác, một di chúc chỉ nhắc tới ngôi nhà mà quên mảnh đất thì mảnh đất đó vẫn chia theo hàng thừa kế.
Ba hàng thừa kế
Khoản 1 Điều 651 quy định thứ tự:
- Hàng thứ nhất: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.
- Hàng thứ hai: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.
- Hàng thứ ba: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Hai nguyên tắc đi kèm quyết định kết quả chia:
Khoản 2 Điều 651: những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Không phân biệt con trai hay con gái, con sống cùng hay con ở xa, con đã có gia đình hay chưa.
Khoản 3 Điều 651: những người ở hàng sau chỉ được hưởng nếu không còn ai ở hàng trước — do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hoặc từ chối nhận. Chừng nào còn một người ở hàng thứ nhất, hàng thứ hai không được gì.
Thừa kế thế vị — khi con chết trước cha mẹ
Điều 652 xử lý tình huống hay gặp: con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản. Khi đó cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống. Nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng thời điểm thì chắt được hưởng phần đó.
Điểm cần chú ý: cháu hưởng phần của cha mẹ mình, không phải một suất ngang với các bác, các chú. Nếu người mất có ba người con và một người đã chết để lại hai cháu, thì di sản chia làm ba phần; hai cháu cùng chia một phần của cha mẹ chúng.
Di sản gồm những gì
Điều 612 định nghĩa ngắn gọn: di sản bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.
Vế thứ hai là chỗ hay bị bỏ sót. Nếu vợ chồng có ngôi nhà là tài sản chung và người chồng mất, thì di sản không phải cả ngôi nhà mà chỉ là phần của người chồng trong đó. Phần còn lại vẫn thuộc về người vợ với tư cách chủ sở hữu, độc lập với việc bà cũng là người thừa kế hàng thứ nhất đối với phần của chồng.
Thời điểm mở thừa kế
Khoản 1 Điều 611: thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 Bộ luật này.
Khoản 2 Điều 611: địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; không xác định được thì là nơi có toàn bộ di sản hoặc nơi có phần lớn di sản.
Thời điểm này quan trọng vì nó là mốc tính thời hiệu, và là mốc xác định ai còn sống để được hưởng thừa kế.
Thời hiệu — con số nhiều gia đình bỏ lỡ
Khoản 1 Điều 623 quy định thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý, di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo Điều 236, hoặc thuộc về Nhà nước nếu không có người chiếm hữu.
Khoản 2 Điều 623 nêu một thời hiệu khác, ngắn hơn nhiều: thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế.
Đây là chỗ nhiều gia đình mất quyền mà không biết: đất của ông bà để lại, con cháu sống hòa thuận nhiều chục năm không chia, tới lúc phát sinh mâu thuẫn thì thời hiệu đã hết và người đang quản lý đất trở thành chủ sở hữu.
Điều bài viết này không trả lời được
Bài viết nêu ai được hưởng, không nêu thủ tục khai nhận và phân chia di sản — việc đó thuộc pháp luật về công chứng và pháp luật đất đai nếu di sản là nhà đất. Bài cũng chưa trích Điều 621 về những người không được quyền hưởng di sản, và Điều 653, 654 về quan hệ thừa kế của con nuôi, con riêng.
Nếu di sản là nhà đất chưa có giấy chứng nhận, hoặc trong gia đình có người đã chết trước, có người ở nước ngoài, hoặc có tranh chấp về việc ai đang quản lý — thì cần luật sư xem hồ sơ cụ thể. Những yếu tố đó làm thay đổi hoàn toàn cách xử lý.
Nếu ông bà cần xem xét trường hợp cụ thể của mình, dịch vụ luật sư dân sự của chúng tôi đọc hồ sơ trước khi đưa ra bất kỳ kết luận nào.
Căn cứ pháp lý
- Điều 611, Điều 612, Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 652 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015.
- Bản đối chiếu: Công báo số 1245 + 1246 ngày 28/12/2015.
