Có 30 ngày kể từ ngày nhận quyết định để khởi kiện tại Tòa án theo tố tụng hành chính hoặc khiếu nại lên cấp trên. Quá hạn thì quyết định có hiệu lực thi hành.
Nhận được quyết định giải quyết tranh chấp mà thấy không thỏa đáng, bạn có 30 ngày để hành động. Quá hạn, quyết định có hiệu lực thi hành. Khoản 3 Điều 236 Luật Đất đai 2024 quy định rõ hai con đường.
Mốc 30 ngày quyết định tất cả
Điểm a khoản 3 nêu: sau thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện mà các bên không khởi kiện hoặc khiếu nại, thì quyết định đó có hiệu lực thi hành.
Quy định tương tự áp dụng với quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tại điểm b.
Mốc tính là ngày nhận được quyết định, không phải ngày ký. Nên giữ lại phong bì, giấy báo phát hoặc biên nhận để chứng minh ngày nhận.
Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện
Áp dụng cho tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau. Trong 30 ngày, bạn có hai lựa chọn:
- Khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
- Khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Luật ghi rõ: quyết định giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có hiệu lực thi hành. Đây là điểm dừng của kênh hành chính ở cấp này.
Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Áp dụng khi một bên tranh chấp là tổ chức, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, hoặc tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trong 30 ngày kể từ ngày nhận quyết định:
- Khởi kiện tại Tòa án theo pháp luật về tố tụng hành chính;
- Khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Luật ghi: quyết định giải quyết của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường có hiệu lực thi hành.
Lưu ý: tố tụng hành chính, không phải dân sự
Khi khởi kiện quyết định giải quyết tranh chấp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân, bạn đi theo pháp luật về tố tụng hành chính — đối tượng khởi kiện là quyết định hành chính.
Khác với trường hợp tại khoản 2 Điều 236, khi các bên chọn khởi kiện tranh chấp đất đai ngay từ đầu tại Tòa án thì đi theo pháp luật về tố tụng dân sự.
Hai loại tố tụng có trình tự, thời hiệu và cách xác định tòa án có thẩm quyền khác nhau.
Hệ quả khi quyết định đã có hiệu lực
Khoản 4 Điều 236: quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên nghiêm chỉnh chấp hành.
Sau 30 ngày kể từ ngày quyết định có hiệu lực mà các bên hoặc một bên không chấp hành thì bị cưỡng chế thi hành.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có đất tranh chấp ban hành quyết định cưỡng chế và tổ chức thực hiện.
Như vậy có hai mốc 30 ngày liên tiếp: 30 ngày để khiếu nại hoặc khởi kiện, và 30 ngày sau khi quyết định có hiệu lực trước khi bị cưỡng chế.
Khiếu nại quyết định hành chính khác về đất đai
Ngoài tranh chấp đất đai, Điều 237 quy định quyền chung: người sử dụng đất, người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai.
Phạm vi này rộng, bao gồm quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, quyết định cấp hoặc từ chối cấp giấy chứng nhận, quyết định cưỡng chế.
Khoản 2 Điều 237 dẫn chiếu: trình tự khiếu nại theo pháp luật về khiếu nại; trình tự khởi kiện theo pháp luật về tố tụng hành chính.
Bốn việc nên làm ngay khi nhận quyết định
- Ghi lại ngày nhận và giữ bằng chứng — đây là mốc tính 30 ngày;
- Đọc kỹ căn cứ pháp lý mà quyết định viện dẫn, đối chiếu với điều khoản thực tế của Luật;
- Chọn một trong hai con đường — khởi kiện hành chính hoặc khiếu nại lên cấp trên — và nộp trong thời hạn;
- Nếu cần hồ sơ địa chính làm chứng cứ, viện dẫn khoản 6 Điều 236: Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm cung cấp hồ sơ, tài liệu khi Tòa án yêu cầu.
Quy định chung là một chuyện, hồ sơ cụ thể của ông bà lại là chuyện khác. Dịch vụ luật sư đất đai của chúng tôi đọc giấy tờ trước và nói rõ vụ việc đang đứng ở đâu.
Căn cứ pháp lý
Điều 236, Điều 237 Luật Đất đai 2024 (Luật số 31/2024/QH15).

