Hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã là thủ tục bắt buộc trước khi cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai. Thời hạn hòa giải không quá 30 ngày kể từ ngày nhận đơn.
Đây là bước gần như không thể bỏ qua khi có tranh chấp đất đai. Điều 235 Luật Đất đai 2024 quy định hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã là thủ tục bắt buộc trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết.
Bắt buộc đến mức nào
Khoản 2 Điều 235 nêu rõ: trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai theo Điều 236, các bên tranh chấp phải thực hiện hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.
Trước đó, khoản 1 nêu Nhà nước khuyến khích các bên tự hòa giải, hòa giải ở cơ sở theo pháp luật về hòa giải ở cơ sở, hòa giải theo pháp luật về hòa giải thương mại, hoặc cơ chế hòa giải khác. Nhóm này là khuyến khích, khác với hòa giải tại cấp xã là bắt buộc.
Trình tự năm bước
Nộp đơn yêu cầu hòa giải
Điểm a khoản 2: sau khi nhận được đơn, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai.
Thành phần Hội đồng hòa giải
Điểm b khoản 2 quy định:
- Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã — làm Chủ tịch Hội đồng;
- Đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã;
- Công chức làm công tác địa chính;
- Người sinh sống lâu năm biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng thửa đất tranh chấp (nếu có).
Thành phần cuối cùng đáng chú ý. Với tranh chấp ranh giới đất lâu năm, lời của người sống lâu trong vùng nhiều khi là chứng cứ quan trọng nhất, vì hồ sơ địa chính cũ thường không đầy đủ.
Tùy trường hợp, có thể mời thêm đại diện tổ chức, cá nhân khác tham gia Hội đồng.
Thời hạn 30 ngày
Điểm c khoản 2: việc hòa giải được thực hiện trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp đất đai.
Lập biên bản
Điểm d khoản 2: việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên tham gia và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã.
Biên bản được gửi đến các bên tranh chấp và lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.
Khi một bên không chịu ký
Điểm đ khoản 2 xử lý tình huống rất hay gặp: hòa giải không thành mà một hoặc các bên không ký vào biên bản.
Khi đó, Chủ tịch Hội đồng và các thành viên tham gia hòa giải phải ký vào biên bản, đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã và gửi cho các bên tranh chấp.
Quy định này quan trọng: một bên cố tình không ký không làm bế tắc thủ tục. Biên bản vẫn hợp lệ và các bên vẫn đi tiếp được sang bước giải quyết theo Điều 236.
Hòa giải thành thì phải làm gì tiếp
Khoản 4 Điều 235: nếu hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, diện tích, người sử dụng đất, thì trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, các bên phải gửi văn bản công nhận kết quả hòa giải thành đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc đăng ký, cấp Giấy chứng nhận.
Lưu ý luật dùng 30 ngày làm việc, không phải 30 ngày lịch.
Đây là bước rất hay bị bỏ quên. Hòa giải xong mà không đăng ký thì hồ sơ địa chính vẫn giữ nguyên tình trạng cũ, và tranh chấp có thể bùng lại sau này.
Liên quan tới việc này, điểm k khoản 1 Điều 133 xếp kết quả hòa giải thành về tranh chấp đất đai được Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền công nhận vào diện phải đăng ký biến động.
Hòa giải tại Tòa án và hòa giải thương mại
Khoản 3 Điều 235: hòa giải tranh chấp đất đai tại Tòa án thực hiện theo pháp luật về hòa giải, đối thoại tại Tòa án và pháp luật về tố tụng dân sự. Hòa giải tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại liên quan tới đất đai bằng hòa giải thương mại thực hiện theo pháp luật về hòa giải thương mại.
Trường hợp không phải hòa giải tại cấp xã
Khoản 5 Điều 235: đối với địa bàn không thành lập đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện thì không thực hiện quy định tại khoản 2. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai khi đó thực hiện theo Điều 236.
Bốn việc nên chuẩn bị
- Đơn yêu cầu hòa giải nêu rõ nội dung tranh chấp, phần diện tích tranh chấp;
- Giấy tờ về nguồn gốc sử dụng đất — sổ đỏ, giấy tờ theo Điều 137, biên lai thuế, sổ mục kê;
- Người biết rõ nguồn gốc và quá trình sử dụng đất — có thể đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã mời tham gia Hội đồng theo điểm b khoản 2;
- Giữ biên bản hòa giải — đây là điều kiện để đi tiếp sang bước giải quyết theo Điều 236.
Quy định chung là một chuyện, hồ sơ cụ thể của ông bà lại là chuyện khác. Dịch vụ luật sư đất đai của chúng tôi đọc giấy tờ trước và nói rõ vụ việc đang đứng ở đâu.
Căn cứ pháp lý
Điều 235, Điều 236 Luật Đất đai 2024 (Luật số 31/2024/QH15).

