Trưng dụng đất là biện pháp tạm thời tối đa 30 ngày, có thể gia hạn thêm 30 ngày, và đất phải được hoàn trả. Trường hợp khẩn cấp có thể quyết định bằng lời nói nhưng phải xác nhận bằng văn bản trong 48 giờ.
Trưng dụng và thu hồi đất là hai việc hoàn toàn khác nhau, dù đều do Nhà nước thực hiện. Khác biệt cơ bản: thu hồi là lấy đất vĩnh viễn, còn trưng dụng là mượn đất có thời hạn và phải trả lại.
Khi nào được trưng dụng đất
Khoản 1 Điều 90 giới hạn phạm vi rất hẹp: chỉ trong trường hợp thật cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai.
Quyết định trưng dụng bằng lời nói
Khoản 2 quy định nguyên tắc: quyết định trưng dụng phải bằng văn bản và có hiệu lực kể từ thời điểm ban hành.
Nhưng luật dự liệu tình huống khẩn cấp không kịp ra văn bản. Khi đó người có thẩm quyền được quyết định bằng lời nói và quyết định này có hiệu lực thi hành ngay. Kèm theo là hai nghĩa vụ chặt chẽ:
- Người có thẩm quyền phải viết giấy xác nhận việc quyết định trưng dụng tại thời điểm trưng dụng và trao cho người có đất;
- Chậm nhất 48 giờ kể từ thời điểm quyết định bằng lời nói, cơ quan của người đã quyết định phải xác nhận bằng văn bản và gửi cho người có đất.
Mốc 48 giờ là con số cụ thể mà người có đất nên ghi nhớ.
Ai có thẩm quyền
Khoản 3 liệt kê danh sách đóng gồm Bộ trưởng các Bộ: Quốc phòng, Công an, Giao thông vận tải, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Y tế, Công Thương, Tài nguyên và Môi trường, Tài chính; cùng Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Luật ghi rõ: những người này không được ủy quyền. Quyết định trưng dụng hoặc gia hạn trưng dụng phải do chính người có thẩm quyền ký.
Thời hạn tối đa
Khoản 4 quy định:
- Thời hạn trưng dụng không quá 30 ngày kể từ khi quyết định có hiệu lực;
- Nếu hết hạn mà mục đích chưa hoàn thành thì được gia hạn nhưng không quá 30 ngày;
- Quyết định gia hạn phải bằng văn bản và gửi trước khi kết thúc thời hạn trưng dụng;
- Trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp: thời hạn tính từ ngày ra quyết định đến không quá 30 ngày kể từ ngày bãi bỏ tình trạng đó.
Nghĩa vụ của hai bên
Khoản 5: người có đất và chủ sở hữu tài sản phải chấp hành quyết định trưng dụng. Nếu quyết định đã đúng pháp luật mà không chấp hành thì người quyết định trưng dụng ra quyết định cưỡng chế và tổ chức thi hành, hoặc giao cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện nơi có đất tổ chức.
Khoản 6 nêu ba trách nhiệm của người có thẩm quyền trưng dụng: giao cho tổ chức, cá nhân quản lý, sử dụng đúng mục đích, hiệu quả; hoàn trả đất khi hết thời hạn; và bồi thường thiệt hại do việc trưng dụng gây ra.
Bồi thường thiệt hại do trưng dụng
Khoản 7 quy định ba loại thiệt hại được bồi thường:
- Đất bị hủy hoại: bồi thường bằng tiền theo giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường tại thời điểm thanh toán;
- Thu nhập bị thiệt hại do trưng dụng trực tiếp gây ra: tính theo mức thiệt hại thu nhập thực tế từ ngày giao đất trưng dụng đến ngày hoàn trả ghi trong quyết định hoàn trả. Mức này phải phù hợp với thu nhập do đất mang lại trong điều kiện bình thường trước thời điểm trưng dụng;
- Tài sản bị thiệt hại: theo giá chuyển nhượng tài sản trên thị trường tại thời điểm thanh toán.
Ai xác định mức bồi thường và trả khi nào
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc cấp huyện nơi có đất thành lập Hội đồng để xác định mức bồi thường, trên cơ sở văn bản kê khai của người sử dụng đất và hồ sơ địa chính. Căn cứ mức do Hội đồng xác định, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quyết định mức bồi thường.
Tiền bồi thường do ngân sách nhà nước chi trả một lần, trực tiếp cho người có đất và chủ sở hữu tài sản, trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày hoàn trả đất.
Ba việc người có đất trưng dụng nên làm
- Giữ giấy xác nhận trưng dụng, và đòi văn bản xác nhận trong vòng 48 giờ nếu quyết định ban đầu bằng lời nói;
- Ghi nhận hiện trạng đất và tài sản trước khi bàn giao — ảnh chụp, biên bản có người chứng kiến. Đây là căn cứ chứng minh thiệt hại sau này;
- Kê khai đầy đủ thiệt hại về đất, thu nhập và tài sản, vì Hội đồng xác định mức bồi thường dựa trên văn bản kê khai của chính người sử dụng đất.
Quy định chung là một chuyện, hồ sơ cụ thể của ông bà lại là chuyện khác. Dịch vụ luật sư đất đai của chúng tôi đọc giấy tờ trước và nói rõ vụ việc đang đứng ở đâu.
Căn cứ pháp lý
Điều 90 Luật Đất đai 2024 (Luật số 31/2024/QH15).

