Điều 16 Luật Đất đai 2024 quy định hỗ trợ đất đai lần đầu và hỗ trợ tiếp cho hộ nghèo, cận nghèo là người dân tộc thiểu số không còn đất hoặc thiếu đất so với hạn mức.
Điều 16 là một trong những điều được bổ sung đáng kể trong Luật Đất đai 2024, với chính sách hỗ trợ đất đai cụ thể cho đồng bào dân tộc thiểu số.
Đất sinh hoạt cộng đồng
Khoản 1: Nhà nước có chính sách bảo đảm đất sinh hoạt cộng đồng cho đồng bào dân tộc thiểu số, phù hợp với phong tục, tập quán, tín ngưỡng, bản sắc văn hóa và điều kiện thực tế của từng vùng.
Bốn hình thức hỗ trợ đất đai lần đầu
Khoản 2 áp dụng cho cá nhân là người dân tộc thiểu số thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi:
- Giao đất ở trong hạn mức và được miễn, giảm tiền sử dụng đất;
- Cho phép chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở trong hạn mức giao đất ở và được miễn, giảm tiền sử dụng đất — áp dụng với đất có nguồn gốc được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận, hoặc được thừa kế, tặng cho, nhận chuyển nhượng;
- Giao đất nông nghiệp trong hạn mức không thu tiền sử dụng đất;
- Cho thuê đất phi nông nghiệp không phải là đất ở để sản xuất, kinh doanh và được miễn, giảm tiền thuê đất.
Điểm đ khoản 2 quy định cách tính: diện tích giao đất và cho phép chuyển mục đích tại điểm a và b được tính cho tổng diện tích đất được Nhà nước giao, cho phép chuyển mục đích trong quá trình thực hiện các chính sách về đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
Hỗ trợ tiếp khi không còn hoặc thiếu đất
Khoản 3 là quy định có ý nghĩa thực tiễn lớn. Áp dụng cho cá nhân là người dân tộc thiểu số đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất theo khoản 2 nhưng nay không còn đất hoặc thiếu đất so với hạn mức, mà thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi:
- Không còn đất ở: được giao tiếp đất ở, hoặc cho phép chuyển mục đích sang đất ở trong hạn mức, và được miễn, giảm tiền sử dụng đất;
- Thiếu đất ở: cho phép chuyển mục đích sang đất ở trong hạn mức giao đất ở và được miễn, giảm tiền sử dụng đất;
- Không còn hoặc thiếu đất nông nghiệp: được giao tiếp đất nông nghiệp trong hạn mức không thu tiền, hoặc cho thuê đất phi nông nghiệp không phải đất ở để sản xuất, kinh doanh và được miễn, giảm tiền thuê đất.
Đây là cơ chế hỗ trợ lần hai, dành cho trường hợp đã được hỗ trợ nhưng vẫn rơi vào cảnh không còn đất.
Đất ở đâu ra
Khoản 4: đất để thực hiện các chính sách trên được bố trí từ:
- Quỹ đất do cơ quan, tổ chức của Nhà nước quản lý;
- Hoặc từ quỹ đất thu hồi theo khoản 29 Điều 79.
Khoản 29 Điều 79 xếp việc thực hiện dự án bố trí đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số vào các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.
Ai quyết định diện tích cụ thể
Khoản 5: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ tình hình thực tế và quỹ đất của địa phương quyết định diện tích giao đất, cho thuê đất để thực hiện chính sách hỗ trợ theo khoản 3.
Khoản 6: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp ban hành chính sách của địa phương về đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn.
Nghĩa vụ rà soát hằng năm của cấp xã
Khoản 7 quy định một cơ chế chủ động: hằng năm, Ủy ban nhân dân cấp xã rà soát, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện về:
- Các trường hợp không còn, thiếu hoặc không có đất để giao đất, cho thuê đất theo khoản 2 và khoản 3;
- Các trường hợp vi phạm chính sách về đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số;
- Các trường hợp đã được giao đất, cho thuê đất theo khoản 3 mà không còn nhu cầu sử dụng đất, phải thu hồi để tiếp tục thực hiện chính sách.
Nghĩa vụ rà soát hằng năm giúp việc phát hiện hộ thiếu đất không phụ thuộc hoàn toàn vào việc người dân phải tự đi báo.
Kinh phí do ngân sách bảo đảm
Khoản 8: kinh phí thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để thu hồi đất theo khoản 29 Điều 79; kinh phí đo đạc, lập hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận và các chi phí khác để thực hiện chính sách này được bố trí từ ngân sách nhà nước và nguồn vốn hợp pháp khác.
Nghĩa là người được hỗ trợ không phải trả chi phí đo đạc và làm sổ.
Các quy định liên quan khác
- Khoản 7 Điều 118 — đồng bào dân tộc thiểu số không phải là cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng thuộc đối tượng theo chính sách tại Điều 16 vẫn thuộc diện giao đất không thu tiền sử dụng đất;
- Điểm c khoản 1 Điều 157 — đồng bào dân tộc thiểu số sử dụng đất được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định của Chính phủ;
- Điều 48 — quy định điều kiện riêng khi cá nhân là người dân tộc thiểu số được giao đất, cho thuê đất theo khoản 3 Điều 16 thực hiện các quyền của người sử dụng đất. Điểm c khoản 3 Điều 45 dẫn chiếu tới điều này;
- Khoản 3 Điều 11 — nghiêm cấm hành vi vi phạm chính sách về đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số;
- Khoản 1 Điều 91 — việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải quan tâm đến đối tượng chính sách xã hội;
- Điểm b khoản 1 Điều 89 — không được cưỡng chế thu hồi đất vào ngày lễ theo truyền thống của đồng bào dân tộc;
- Điểm c khoản 2 Điều 110 — khu tái định cư phải phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền.
Khoản 9 Điều 16 giao Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Quy định chung là một chuyện, hồ sơ cụ thể của ông bà lại là chuyện khác. Dịch vụ luật sư đất đai của chúng tôi đọc giấy tờ trước và nói rõ vụ việc đang đứng ở đâu.
Căn cứ pháp lý
Điều 16, Điều 48, Điều 79, Điều 118 Luật Đất đai 2024 (Luật số 31/2024/QH15).

