Điều 166 Luật Đất đai 2024 khẳng định dữ liệu trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai có giá trị sử dụng chính thức, tương đương văn bản giấy. Người sử dụng đất được khai thác thông tin của mình.
Điều 166 Luật Đất đai 2024 chứa một quy định có thể thay đổi cách người dân tiếp cận thông tin đất đai: dữ liệu số có giá trị tương đương văn bản giấy.
Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai
Khoản 1 Điều 163: hệ thống được xây dựng tập trung, thống nhất từ trung ương đến địa phương, đồng bộ, đa mục tiêu và kết nối liên thông trên phạm vi cả nước.
Khoản 2 nêu mục tiêu: phục vụ quản lý nhà nước về đất đai, cải cách hành chính, chuyển đổi số; kết nối, chia sẻ dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia và của các Bộ, ngành, địa phương, tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số.
Khoản 3: hệ thống gồm ba thành phần — hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin; phần mềm; và cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai.
Tám thành phần của cơ sở dữ liệu
Khoản 1 Điều 165: cơ sở dữ liệu về văn bản quy phạm pháp luật về đất đai; cơ sở dữ liệu địa chính; cơ sở dữ liệu điều tra, đánh giá, bảo vệ, cải tạo, phục hồi đất; cơ sở dữ liệu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; cơ sở dữ liệu giá đất; cơ sở dữ liệu thống kê, kiểm kê đất đai; cơ sở dữ liệu về thanh tra, kiểm tra, tiếp công dân, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo; và cơ sở dữ liệu khác liên quan.
Khoản 2: được xây dựng đồng bộ, thống nhất theo tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia trong phạm vi cả nước. Khoản 3 giao Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về nội dung, cấu trúc và kiểu thông tin.
Bốn yêu cầu về quản lý
Điều 166:
- Bảo đảm an ninh, an toàn theo quy định của pháp luật (khoản 1);
- Quản lý tập trung và phân cấp quản lý theo trách nhiệm của cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương (khoản 2);
- Cập nhật đầy đủ, chính xác, kịp thời, bảo đảm phù hợp với hiện trạng quản lý, sử dụng đất đai (khoản 3);
- Kết nối liên thông với cơ sở dữ liệu quốc gia và của Bộ, ngành, địa phương để cập nhật, chia sẻ, khai thác, sử dụng thông tin (khoản 4).
Quy định quan trọng nhất: dữ liệu số có giá trị chính thức
Điểm a khoản 5 Điều 166:
Dữ liệu trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai có giá trị sử dụng chính thức, tương đương văn bản giấy được cơ quan có thẩm quyền cung cấp.
Đây là nền tảng pháp lý cho việc thay thế dần các bản giấy trong thủ tục hành chính về đất đai.
Quy định này nhất quán với khoản 3 Điều 131 (đăng ký trên giấy và đăng ký điện tử có giá trị pháp lý như nhau) và khoản 4 Điều 224 (thủ tục thực hiện trực tiếp, qua bưu chính hoặc trên môi trường điện tử có giá trị pháp lý như nhau).
Ai được khai thác thông tin
Khoản 5 Điều 166 phân ba nhóm:
- Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu của Bộ, ngành, địa phương, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội — được khai thác thông tin thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình (điểm b);
- Người sử dụng đất — được khai thác thông tin của mình trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai (điểm c);
- Tổ chức, cá nhân khác — có nhu cầu khai thác thì phải được sự đồng ý của cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai theo quy định của pháp luật (điểm d).
Điểm c là quyền trực tiếp của bạn: được tra cứu thông tin về chính thửa đất của mình mà không cần xin phép.
Nhà nước tạo điều kiện và khuyến khích phản hồi
Điểm đ khoản 5: Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân được tiếp cận, khai thác thông tin, dữ liệu về đất đai; khuyến khích các tổ chức, cá nhân phản hồi, cung cấp, bổ sung thông tin cho cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai.
Vế thứ hai đáng chú ý: người dân có thể góp phần làm dữ liệu chính xác hơn bằng cách phản hồi khi phát hiện sai sót.
Phải trả phí
Điểm e khoản 5: việc khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai phải trả phí khai thác, sử dụng tài liệu đất đai và giá cung cấp dịch vụ thông tin, dữ liệu về đất đai.
Điểm g phân định thẩm quyền: Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí; Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quyết định giá sản phẩm, dịch vụ gia tăng sử dụng thông tin từ cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin đất đai.
Quan hệ với quyền tiếp cận thông tin
Điều 24 quy định quyền tiếp cận thông tin đất đai của công dân với chín loại thông tin, trong đó có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; bảng giá đất đã được công bố; phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã phê duyệt; kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo.
Khoản 1 Điều 18 quy định trách nhiệm của Nhà nước: bảo đảm quyền tiếp cận của người sử dụng đất và tổ chức, cá nhân khác đối với Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai; và ưu tiên lựa chọn hình thức phù hợp với phong tục, tập quán và văn hóa truyền thống của từng dân tộc, từng vùng.
Khoản 2 Điều 18: công bố kịp thời, công khai thông tin thuộc hệ thống — trừ thông tin thuộc bí mật nhà nước.
Khoản 5 Điều 11 nghiêm cấm hành vi không cung cấp thông tin hoặc cung cấp thông tin đất đai không chính xác, không đáp ứng yêu cầu về thời hạn.
Tác động tới định giá đất
Cơ sở dữ liệu giá đất có ảnh hưởng trực tiếp tới tiền bạc. Điểm a khoản 3 Điều 158 xếp giá đất được ghi nhận trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, cơ sở dữ liệu quốc gia về giá là nguồn thông tin đầu vào đầu tiên để định giá đất.
Và khoản 2 Điều 159: khu vực có bản đồ địa chính số và cơ sở dữ liệu giá đất thì xây dựng bảng giá đất đến từng thửa đất. Khi đó, theo khoản 4 Điều 160, giá đất cụ thể được xác định theo bảng giá đất — quy trình minh bạch hơn hẳn.
Quy định chung là một chuyện, hồ sơ cụ thể của ông bà lại là chuyện khác. Dịch vụ luật sư đất đai của chúng tôi đọc giấy tờ trước và nói rõ vụ việc đang đứng ở đâu.
Căn cứ pháp lý
Điều 163, Điều 165, Điều 166, Điều 24 Luật Đất đai 2024 (Luật số 31/2024/QH15).

