Đất chăn nuôi tập trung là loại đất mới trong Luật Đất đai 2024, quy định tại Điều 183. Đất làm muối theo Điều 187 được giao cho cá nhân trong hạn mức, phần vượt phải chuyển sang thuê.
Điểm đ khoản 2 Điều 9 Luật Đất đai 2024 tách đất chăn nuôi tập trung thành một loại đất nông nghiệp riêng. Đây là loại đất mới, có chế độ sử dụng quy định tại Điều 183.
Đất chăn nuôi tập trung là gì
Khoản 1 Điều 183 định nghĩa: là đất xây dựng trang trại chăn nuôi tại khu vực riêng biệt theo quy định của pháp luật về chăn nuôi.
Hai yếu tố: phải là trang trại chăn nuôi, và phải ở khu vực riêng biệt.
Hai nghĩa vụ khi sử dụng
Khoản 2 Điều 183:
- Thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, quản lý chất thải và biện pháp khác để không ảnh hưởng đến người sử dụng đất trong khu vực và xung quanh;
- Trường hợp có xây dựng công trình gắn liền với đất thì phải tuân thủ pháp luật về đầu tư, pháp luật về xây dựng.
Nghĩa vụ thứ nhất nhất quán với khoản 5 Điều 31 — nghĩa vụ chung của người sử dụng đất là không làm tổn hại đến tài sản và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất có liên quan. Với chăn nuôi tập trung, vấn đề mùi và nước thải là nguyên nhân tranh chấp phổ biến nhất với hàng xóm.
Ai được sử dụng đất chăn nuôi tập trung
Khoản 3: tổ chức kinh tế, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, được nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư chăn nuôi tập trung.
Khoản 4: người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước cho thuê đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế để thực hiện dự án chăn nuôi tập trung.
Khác biệt: nhóm trong nước được cả giao đất lẫn nhận chuyển nhượng; nhóm nước ngoài chỉ được thuê đất và nhận góp vốn.
Chuyển sang đất chăn nuôi tập trung phải xin phép
Điểm c khoản 1 Điều 121 quy định: chuyển các loại đất khác sang đất chăn nuôi tập trung khi thực hiện dự án chăn nuôi tập trung quy mô lớn là một trong bảy trường hợp phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.
Kết hợp đa mục đích
Điểm a khoản 1 Điều 218 cho phép đất nông nghiệp được sử dụng kết hợp với mục đích thương mại, dịch vụ, chăn nuôi, trồng cây dược liệu.
Nghĩa là chăn nuôi ở quy mô kết hợp trên đất nông nghiệp có thể đi theo cơ chế sử dụng đất kết hợp đa mục đích, thay vì phải chuyển sang đất chăn nuôi tập trung — miễn đáp ứng các điều kiện tại khoản 2 Điều 218, đặc biệt là không làm thay đổi loại đất và không làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của các thửa đất liền kề.
Đất làm muối
Điều 187 quy định chế độ sử dụng đất làm muối.
Giao cho cá nhân trong hạn mức
Khoản 1: đất làm muối được Nhà nước giao cho cá nhân trong hạn mức giao đất quy định tại Điều 176 tại địa phương để sản xuất muối.
Trường hợp người đang sử dụng đất vượt hạn mức thì phần vượt phải chuyển sang thuê đất.
Hạn mức đất làm muối theo khoản 1 Điều 176: không quá 03 ha đối với tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thuộc khu vực Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long; không quá 02 ha đối với các tỉnh, thành phố khác.
Cho tổ chức thuê
Cũng tại khoản 1: đất làm muối được Nhà nước cho thuê đối với tổ chức kinh tế, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài để thực hiện dự án đầu tư sản xuất muối.
Bảo vệ vùng muối chất lượng cao
Khoản 2: những vùng đất làm muối có năng suất, chất lượng cao phải được bảo vệ và ưu tiên cho việc sản xuất muối.
Khoản 3: Nhà nước khuyến khích việc sử dụng những vùng đất có khả năng làm muối để sản xuất muối phục vụ nhu cầu công nghiệp và đời sống.
Thời hạn và các quyền liên quan
Điểm a khoản 1 Điều 172: đất làm muối giao cho cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp trong hạn mức tại Điều 176 có thời hạn 50 năm, và khi hết thời hạn được tiếp tục sử dụng mà không phải làm thủ tục gia hạn.
Khoản 4 Điều 176: cá nhân được giao nhiều loại trong nhóm đất trồng cây hằng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối thì tổng hạn mức giao đất không quá 05 ha.
Bồi thường khi thu hồi
Điều 96 quy định bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân — áp dụng cho cả đất làm muối và đất chăn nuôi tập trung thuộc nhóm đất nông nghiệp.
Khoản 4 Điều 103 quy định riêng về bồi thường vật nuôi: khi thu hồi đất gây thiệt hại đối với vật nuôi là thủy sản hoặc vật nuôi khác mà không thể di chuyển thì được bồi thường thiệt hại thực tế theo mức do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.
Ngoài ra, điểm c khoản 1 Điều 108 liệt kê hỗ trợ di dời vật nuôi là một trong sáu khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất — áp dụng cho vật nuôi có thể di chuyển được.
Quy định chung là một chuyện, hồ sơ cụ thể của ông bà lại là chuyện khác. Dịch vụ luật sư đất đai của chúng tôi đọc giấy tờ trước và nói rõ vụ việc đang đứng ở đâu.
Căn cứ pháp lý
Điều 183, Điều 187, Điều 9, Điều 176 Luật Đất đai 2024 (Luật số 31/2024/QH15).

