Ba loại đất rừng có chế độ giao đất khác nhau theo Điều 184, 185, 186. Đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên được thuê thì không được chuyển nhượng, cho thuê lại, thế chấp, góp vốn.
Luật Đất đai 2024 dành ba điều riêng cho ba loại đất rừng, với chế độ giao đất và quyền của người sử dụng đất khác nhau đáng kể.
Đất rừng sản xuất
Bốn nhóm được giao không thu tiền
Khoản 1 Điều 184:
- Cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp thường trú trên địa bàn cấp xã nơi có đất rừng sản xuất là rừng trồng — trong hạn mức giao đất tại điểm b khoản 3 Điều 176. Phần vượt hạn mức phải chuyển sang thuê đất;
- Cộng đồng dân cư trên địa bàn cấp xã nơi có đất rừng sản xuất mà có nhu cầu, khả năng bảo vệ, phát triển rừng;
- Đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân đóng trên địa bàn cấp xã nơi có đất rừng sản xuất;
- Ban quản lý rừng đặc dụng, ban quản lý rừng phòng hộ — đối với diện tích đất rừng sản xuất xen kẽ trong đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ.
Điều kiện thường trú trên địa bàn cấp xã là điểm quan trọng: đất rừng sản xuất được giao ưu tiên cho người sống tại chỗ.
Hạn chế nặng nhất: rừng tự nhiên
Khoản 3 Điều 184: người được Nhà nước cho thuê đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên không được chuyển nhượng, cho thuê lại, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất và quyền thuê trong hợp đồng thuê đất trả tiền thuê đất hằng năm.
Đây là hạn chế toàn diện, khác hẳn với rừng trồng.
Được thuê và được xây hạ tầng
Khoản 2: Nhà nước cho tổ chức kinh tế, doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, cá nhân thuê đất rừng sản xuất.
Khoản 5: Nhà nước cho tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thuê đất rừng sản xuất để thực hiện dự án trồng rừng sản xuất.
Khoản 4: các đối tượng tại khoản 1 và khoản 2 được xây dựng công trình kết cấu hạ tầng phục vụ bảo vệ, phát triển rừng theo pháp luật về lâm nghiệp.
Đất rừng phòng hộ
Khoản 1 Điều 185: Nhà nước giao đất rừng phòng hộ để quản lý, sử dụng, bảo vệ, phát triển rừng cho bốn nhóm:
- Ban quản lý rừng phòng hộ, ban quản lý rừng đặc dụng, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân;
- Tổ chức kinh tế — đối với đất rừng phòng hộ xen kẽ trong diện tích đất rừng sản xuất của tổ chức đó;
- Cá nhân cư trú hợp pháp trên địa bàn cấp xã nơi có rừng phòng hộ;
- Cộng đồng dân cư trên địa bàn cấp xã nơi có rừng phòng hộ.
Được cấp sổ nhưng không ghi tài sản công
Khoản 3 Điều 185: người được giao đất được cấp Giấy chứng nhận, nhưng không được ghi nhận tài sản là tài sản công trên giấy chứng nhận.
Khoản 4: người được cấp giấy chứng nhận — trừ ban quản lý rừng phòng hộ và ban quản lý rừng đặc dụng — được thực hiện quyền của người sử dụng đất, nhưng phải bảo đảm phù hợp với khoản 8 Điều 45.
Khoản 8 Điều 45 chính là quy định hạn chế nhận chuyển nhượng: tổ chức kinh tế không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng của cá nhân (trừ khi được chuyển mục đích theo quy hoạch đã phê duyệt); và cá nhân không sinh sống trong khu vực rừng phòng hộ, rừng đặc dụng thì không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất ở và đất khác trong khu vực đó.
Đất rừng đặc dụng
Khoản 1 Điều 186 giao cho bốn nhóm:
- Ban quản lý rừng đặc dụng;
- Tổ chức khoa học và công nghệ, đào tạo, giáo dục nghề nghiệp về lâm nghiệp;
- Ban quản lý rừng phòng hộ, tổ chức kinh tế, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân;
- Cộng đồng dân cư trên địa bàn cấp xã nơi có rừng đặc dụng.
Khoản 2 quy định một nội dung riêng: căn cứ điều kiện cụ thể, ban quản lý rừng đặc dụng phối hợp với chính quyền địa phương lập dự án di dân, tái định cư trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt để di dân ra khỏi phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng.
Khoản 3 và khoản 4 tương tự Điều 185: được xây dựng công trình kết cấu hạ tầng phục vụ quản lý, bảo vệ, phát triển rừng; được cấp giấy chứng nhận nhưng không ghi nhận tài sản là tài sản công.
Đất rừng khi Nhà nước thu hồi
Khoản 3 Điều 103 quy định về bồi thường: cây rừng trồng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước và cây rừng tự nhiên giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trồng, quản lý, chăm sóc, bảo vệ thì bồi thường theo giá trị thiệt hại thực tế của vườn cây. Tiền bồi thường được phân chia cho người quản lý, chăm sóc, bảo vệ theo pháp luật về lâm nghiệp.
Thu hồi đất rừng và đất lấn chiếm có nguồn gốc lâm trường
Điểm đ khoản 1 Điều 82: thu hồi đất trong trường hợp đã bị thu hồi rừng theo pháp luật về lâm nghiệp, với căn cứ là văn bản thu hồi rừng.
Điểm a khoản 2 Điều 139: đất lấn chiếm có nguồn gốc nông, lâm trường mà thuộc quy hoạch lâm nghiệp đối với rừng đặc dụng, rừng phòng hộ thì tỉnh chỉ đạo thu hồi giao cho Ban quản lý rừng; người đang sử dụng được xem xét khoán bảo vệ, phát triển rừng. Nếu địa phương không có Ban quản lý rừng thì người đang sử dụng được Nhà nước giao đất để bảo vệ, phát triển rừng phòng hộ và được xem xét cấp sổ.
Thời hạn sử dụng đất rừng
Khoản 3 Điều 171: đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất do tổ chức quản lý thuộc nhóm sử dụng ổn định lâu dài.
Còn đất rừng sản xuất là rừng trồng giao cho cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp trong hạn mức thì theo điểm a khoản 1 Điều 172 có thời hạn 50 năm, và khi hết thời hạn được tiếp tục sử dụng mà không phải làm thủ tục gia hạn.
Rủi ro bỏ hoang
Khoản 7 Điều 81: đất trồng rừng không được sử dụng trong 24 tháng liên tục và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không đưa đất vào sử dụng theo thời hạn ghi trong quyết định xử phạt là căn cứ thu hồi đất.
Đây là mốc dài nhất trong ba mốc tại khoản 7 — 12 tháng với cây hằng năm và nuôi trồng thủy sản, 18 tháng với cây lâu năm, 24 tháng với đất trồng rừng.
Quy định chung là một chuyện, hồ sơ cụ thể của ông bà lại là chuyện khác. Dịch vụ luật sư đất đai của chúng tôi đọc giấy tờ trước và nói rõ vụ việc đang đứng ở đâu.
Căn cứ pháp lý
Điều 184, Điều 185, Điều 186, Điều 176, Điều 45 Luật Đất đai 2024 (Luật số 31/2024/QH15).

