Điều 188 Luật Đất đai 2024 quy định ao, hồ, đầm được giao theo hạn mức cho cá nhân để nuôi trồng thủy sản, sản xuất nông nghiệp. San lấp hoặc đào hồ đầm phải được phép và phải đánh giá tác động môi trường.
Ao, hồ, đầm là loại đất rất phổ biến ở nông thôn Việt Nam. Điều 188 Luật Đất đai 2024 quy định chế độ sử dụng, trong đó có một quy định về san lấp mà nhiều người chưa biết.
Hai hình thức tiếp cận
Khoản 1 Điều 188 phân biệt theo chủ thể:
- Giao theo hạn mức đối với cá nhân — để sử dụng vào mục đích nuôi trồng thủy sản, sản xuất nông nghiệp;
- Cho thuê đối với tổ chức kinh tế, cá nhân, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài — để thực hiện dự án đầu tư nuôi trồng thủy sản, sản xuất nông nghiệp, hoặc nông nghiệp kết hợp với mục đích phi nông nghiệp.
Hạn mức giao cho cá nhân theo khoản 1 Điều 176: không quá 03 ha đối với đất nuôi trồng thủy sản ở tỉnh, thành phố thuộc khu vực Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long; không quá 02 ha ở nơi khác.
Cũng tại khoản 1: việc sử dụng đất phải bảo đảm cảnh quan, bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên nước.
Ai quyết định khi hồ đầm nằm trên nhiều địa bàn
Khoản 2 Điều 188 phân định rõ:
- Hồ, đầm thuộc địa bàn nhiều xã, phường, thị trấn: việc sử dụng do Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định;
- Hồ, đầm thuộc địa bàn nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh: do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.
Đây là quy định thiết thực vì nhiều hồ đầm lớn nằm vắt qua ranh giới hành chính.
San lấp hoặc đào hồ đầm phải xin phép
Khoản 3 Điều 188 là quy định người dân cần biết nhất:
Tổ chức kinh tế, cá nhân, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để san lấp hoặc đào hồ, đầm tạo không gian thu, trữ nước, tạo cảnh quan thì phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phải đánh giá tác động môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
Hai nghĩa vụ: xin phép và đánh giá tác động môi trường. Việc tự ý san lấp ao hồ là vi phạm.
Quy định này liên hệ với khoản 3 Điều 5 — nguyên tắc bảo vệ đất, bảo vệ môi trường; và khoản 2 Điều 81 — hủy hoại đất mà đã bị xử phạt vẫn tiếp tục vi phạm là căn cứ thu hồi đất.
Phân biệt với đất có mặt nước chuyên dùng
Khoản 1 Điều 215 định nghĩa đất có mặt nước chuyên dùng là đất có mặt nước của các đối tượng thủy văn dạng ao, hồ, đầm, phá đã được xác định mục đích sử dụng mà không phải mục đích nuôi trồng thủy sản.
Nghĩa là cùng một cái ao:
- Dùng để nuôi trồng thủy sản: thuộc đất nuôi trồng thủy sản, một loại đất nông nghiệp theo điểm d khoản 2 Điều 9, chế độ theo Điều 188;
- Dùng vào mục đích khác: thuộc đất có mặt nước chuyên dùng, nhóm đất phi nông nghiệp theo điểm i khoản 3 Điều 9, chế độ theo Điều 215.
Được sử dụng kết hợp đa mục đích
Điểm đ khoản 1 Điều 218 cho phép đất có mặt nước được sử dụng kết hợp đa mục đích theo quy định tại các Điều 188, Điều 189 và Điều 215.
Bảy điều kiện tại khoản 2 Điều 218 áp dụng, đặc biệt quan trọng với đất mặt nước là: không làm thay đổi loại đất; không làm mất đi điều kiện cần thiết để trở lại sử dụng vào mục đích chính; và hạn chế ảnh hưởng đến bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên, đa dạng sinh học, cảnh quan môi trường.
Theo khoản 4 Điều 218, nếu kết hợp với thương mại, dịch vụ thì phải lập phương án sử dụng đất trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Đất có mặt nước ven biển
Điều 189 quy định riêng cho đất có mặt nước ven biển, với năm yêu cầu tại khoản 2:
- Phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt;
- Bảo vệ đất, làm tăng sự bồi tụ đất ven biển;
- Bảo vệ hệ sinh thái, môi trường và cảnh quan;
- Không cản trở việc bảo vệ an ninh quốc gia và giao thông trên biển;
- Bảo vệ chất lượng nước khu vực ven biển; không gây nhiễm mặn các tầng chứa nước dưới đất.
Khoản 3 Điều 189: việc giao đất, cho thuê đất có mặt nước ven biển vào mục đích nông nghiệp, phi nông nghiệp mà không phải hoạt động lấn biển phải tuân thủ chế độ sử dụng các loại đất theo Luật này, Luật Biển Việt Nam, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo và luật khác có liên quan.
Đất bãi bồi ven sông, ven biển
Khoản 1 Điều 191 định nghĩa gồm: đất bãi sông, đất bãi nổi, cù lao trên sông, đất bãi bồi ven biển và đất bãi nổi, cù lao trên biển.
Khoản 2: đất bãi bồi thuộc địa bàn quận, huyện nào thì do Ủy ban nhân dân cấp huyện đó quản lý; và được Nhà nước giao, cho thuê đối với tổ chức kinh tế, cá nhân, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Khoản 4 giao Ủy ban nhân dân cấp huyện trách nhiệm điều tra, khảo sát, theo dõi, đánh giá quỹ đất bãi bồi thường xuyên được bồi tụ hoặc thường bị sạt lở để có kế hoạch khai thác, sử dụng; và cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định giao đất, cho thuê đất cho người có nhu cầu.
Khoản 5 nêu nguyên tắc: dựa trên bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường, phòng chống sạt lở lòng, bờ, bãi sông và phòng chống thiên tai.
Rủi ro sạt lở
Với đất ven sông, ven biển, cần lưu ý điểm b khoản 3 Điều 82: Nhà nước thu hồi đất khi đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi thiên tai khác đe dọa tính mạng con người; hoặc đất khác bị sạt lở, sụt lún mà không còn khả năng tiếp tục sử dụng.
Điểm quan trọng: khoản 2 Điều 92 quy định trường hợp thu hồi theo khoản 3 Điều 82 thì người có đất được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư như trường hợp thu hồi đất theo Điều 78 và Điều 79 — tức hưởng chế độ đầy đủ.
Quy định chung là một chuyện, hồ sơ cụ thể của ông bà lại là chuyện khác. Dịch vụ luật sư đất đai của chúng tôi đọc giấy tờ trước và nói rõ vụ việc đang đứng ở đâu.
Căn cứ pháp lý
Điều 188, Điều 215, Điều 218, Điều 176 Luật Đất đai 2024 (Luật số 31/2024/QH15).

