Điều 190 là chế định mới của Luật Đất đai 2024. Lấn biển phải bảo đảm quyền tiếp cận với biển của người dân, và sáu khu vực nhạy cảm chỉ được lấn khi Quốc hội hoặc Thủ tướng chấp thuận.

Lấn biển là chế định hoàn toàn mới trong Luật Đất đai 2024. Điều 190 đặt ra khung pháp lý cho hoạt động này, với nhiều điều kiện chặt chẽ.

Nhà nước khuyến khích nhưng có điều kiện

Khoản 1 Điều 190: Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân sử dụng vốn, kỹ thuật, công nghệ thực hiện các hoạt động lấn biển; có chính sách hỗ trợ, ưu đãi cho nhà đầu tư thực hiện hoạt động lấn biển.

Năm nguyên tắc bắt buộc

Khoản 2 Điều 190:

  • Bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, lợi ích quốc gia trên biển; phù hợp với luật khác có liên quan và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên;
  • Dựa trên cơ sở đánh giá đầy đủ về kinh tế, xã hội, môi trường, bảo đảm phát triển bền vững, đa dạng sinh học, các yếu tố tự nhiên, tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu và nước biển dâng;
  • Phù hợp với quy hoạch tỉnh, hoặc quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, hoặc quy hoạch xây dựng, hoặc quy hoạch đô thị;
  • Khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên biển; bảo đảm hài hòa lợi ích của tổ chức, cá nhân thực hiện lấn biển và các bên liên quan; bảo đảm quyền tiếp cận với biển của người dân, cộng đồng;
  • Hoạt động lấn biển phải được lập thành dự án đầu tư hoặc hạng mục của dự án đầu tư.

Nguyên tắc đáng chú ý nhất với người dân

Vế cuối của điểm d khoản 2:

Bảo đảm quyền tiếp cận với biển của người dân, cộng đồng.

Đây là quy định bảo vệ lợi ích công cộng: dự án lấn biển không được chặn hết lối ra biển của cư dân địa phương.

Sáu khu vực chỉ được lấn khi Quốc hội hoặc Thủ tướng chấp thuận

Khoản 3 Điều 190 liệt kê các khu vực nhạy cảm — hoạt động lấn biển có phần diện tích thuộc một trong các khu vực này chỉ được thực hiện khi được Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định chủ trương đầu tư:

  • Khu vực bảo vệ di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được công nhận theo pháp luật về di sản văn hóa;
  • Di sản thiên nhiên theo pháp luật về bảo vệ môi trường;
  • Vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh, khu bảo vệ cảnh quan, vùng đất ngập nước quan trọng đã được công bố;
  • Khu bảo tồn biển, khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản, cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá;
  • Khu vực cảng biển, vùng nước trước cầu cảng, vùng quay trở tàu, khu neo đậu, khu chuyển tải, khu tránh bão, vùng đón trả hoa tiêu, vùng kiểm dịch, luồng hàng hải, vùng nước để xây công trình phụ trợ;
  • Cửa sông và các khu vực đã được quy hoạch, sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh.

Danh sách này cho thấy mức độ thận trọng của luật với hoạt động lấn biển.

Đất lấn biển được quản lý như đất liền

Khoản 4 Điều 190:

Khu vực biển được xác định để thực hiện hoạt động lấn biển trong quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt và dự án đầu tư đã được chấp thuận, quyết định chủ trương đầu tư thì việc quản lý, sử dụng khu vực biển để thực hiện hoạt động lấn biển như đối với đất đai trên đất liền.

Đây là điểm mấu chốt về pháp lý: sau khi đủ hai điều kiện trên, khu vực biển đó chịu sự điều chỉnh của Luật Đất đai.

Khoản 6 quy định về trình tự: việc giao khu vực biển để thực hiện hoạt động lấn biển được tiến hành đồng thời với việc giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư.

Lấn biển trong quy hoạch sử dụng đất

Điểm đ khoản 2 Điều 66 buộc nội dung quy hoạch sử dụng đất cấp huyện phải xác định ranh giới, vị trí, diện tích khu vực lấn biển để sử dụng vào mục đích nông nghiệp, phi nông nghiệp.

Nghĩa là khu vực lấn biển phải được thể hiện trong quy hoạch — và theo Điều 75, quy hoạch sử dụng đất cấp huyện phải được công bố công khai chậm nhất 15 ngày kể từ ngày phê duyệt và trong suốt kỳ quy hoạch.

Khoản 24 Điều 79 cũng xếp thực hiện hoạt động lấn biển vào các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.

Ba cấp quản lý

Khoản 5 Điều 190 phân định trách nhiệm:

  • Bộ Tài nguyên và Môi trường — giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động lấn biển; thanh tra, kiểm tra hoạt động lấn biển và quản lý khu vực lấn biển;
  • Các Bộ, cơ quan ngang Bộ — quản lý, kiểm tra hoạt động lấn biển; ban hành, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện quy định, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và định mức kinh tế - kỹ thuật;
  • Ủy ban nhân dân cấp tỉnh — quản lý, giao đất, cho thuê đất để lấn biển; thanh tra, kiểm tra hoạt động lấn biển và quản lý, sử dụng khu vực lấn biển trên địa bàn.

Quan hệ với đất có mặt nước ven biển

Khoản 3 Điều 189 phân định rõ: việc giao đất, cho thuê đất có mặt nước ven biển vào mục đích nông nghiệp, phi nông nghiệp mà không phải hoạt động lấn biển thì tuân thủ chế độ sử dụng các loại đất theo Luật này, Luật Biển Việt Nam, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.

Nghĩa là hai chế định tách bạch: sử dụng mặt nước ven biển theo Điều 189, còn lấn biển theo Điều 190.

Khoản 7 Điều 190 giao Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Quy định chung là một chuyện, hồ sơ cụ thể của ông bà lại là chuyện khác. Dịch vụ luật sư đất đai của chúng tôi đọc giấy tờ trước và nói rõ vụ việc đang đứng ở đâu.

Căn cứ pháp lý

Điều 190, Điều 189, Điều 79, Điều 66 Luật Đất đai 2024 (Luật số 31/2024/QH15).

Lưu ý: Bài viết tóm tắt quy định của Luật Đất đai 2024 (Luật số 31/2024/QH15) để bạn đọc tham khảo, không thay thế ý kiến của luật sư cho vụ việc cụ thể. Quy định về đất đai thay đổi nhanh; trước khi làm hồ sơ bạn nên kiểm tra lại văn bản còn hiệu lực hoặc hỏi cơ quan có thẩm quyền nơi có đất.