Điều 212 và 213 Luật Đất đai 2024 phân biệt đất tín ngưỡng với đất tôn giáo. Đất xây dựng cơ sở tôn giáo được giao không thu tiền; nếu bị thu hồi thì được bố trí địa điểm mới.
Hai loại đất này thường bị nhầm lẫn. Điểm g khoản 3 Điều 9 Luật Đất đai 2024 tách bạch rõ: đất tôn giáo là đất sử dụng cho hoạt động tôn giáo, đất tín ngưỡng là đất sử dụng cho hoạt động tín ngưỡng.
Đất tín ngưỡng gồm những gì
Khoản 1 Điều 212: đất tín ngưỡng là đất có công trình tín ngưỡng bao gồm:
- Đình, đền, miếu, am, nhà thờ họ;
- Chùa không thuộc quy định tại khoản 1 Điều 213;
- Các công trình tín ngưỡng khác.
Điểm đáng chú ý: nhà thờ họ thuộc đất tín ngưỡng. Và không phải chùa nào cũng là đất tôn giáo — chùa không thuộc cơ sở của tổ chức tôn giáo thì là đất tín ngưỡng.
Đất tôn giáo gồm những gì
Khoản 1 Điều 213: đất tôn giáo bao gồm đất xây dựng cơ sở tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc và công trình tôn giáo hợp pháp khác.
Chế độ giao đất khác nhau rõ rệt
Khoản 2 Điều 213: Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với đất xây dựng cơ sở tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc.
Khoản 3: Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hằng năm đối với tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc sử dụng đất không thuộc các trường hợp tại khoản 2.
Nghĩa là chỉ phần đất dùng trực tiếp cho hoạt động tôn giáo mới được giao không thu tiền; phần còn lại phải thuê.
Khoản 5 Điều 118 cũng nhất quán: tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc sử dụng đất theo khoản 2 Điều 213 thuộc diện được giao đất không thu tiền sử dụng đất.
Hạn mức do tỉnh quyết định
Khoản 4 Điều 213: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ nhu cầu thực tế về hoạt động tôn giáo và khả năng quỹ đất của địa phương để quy định hạn mức và quyết định diện tích đất giao cho tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trên địa bàn tỉnh.
Bảo đảm khi bị thu hồi đất tôn giáo
Khoản 6 Điều 213 là quy định bảo vệ đặc thù:
Trường hợp Nhà nước thu hồi đất tôn giáo quy định tại khoản 2 Điều này thì được bố trí địa điểm mới phù hợp với quỹ đất của địa phương và sinh hoạt tôn giáo của các tín đồ.
Không chỉ bồi thường bằng tiền mà phải bố trí địa điểm mới, và địa điểm đó phải phù hợp với sinh hoạt tôn giáo của tín đồ.
Với đất tín ngưỡng, khoản 2 Điều 118 quy định đất tín ngưỡng được giao không thu tiền sử dụng đất để bồi thường cho trường hợp Nhà nước thu hồi đất tín ngưỡng.
Được kết hợp thương mại, dịch vụ
Đây là điểm mới của Luật Đất đai 2024. Khoản 3 Điều 212 và khoản 5 Điều 213 đều quy định: việc sử dụng đất tín ngưỡng, đất tôn giáo kết hợp với thương mại, dịch vụ phải bảo đảm các yêu cầu tại khoản 2 Điều 218.
Điểm e khoản 1 Điều 218 cũng liệt kê đất tôn giáo, đất tín ngưỡng vào nhóm được sử dụng kết hợp đa mục đích.
Bảy điều kiện tại khoản 2 Điều 218 gồm: không làm thay đổi loại đất; không làm mất đi điều kiện cần thiết để trở lại sử dụng vào mục đích chính; không ảnh hưởng quốc phòng, an ninh; hạn chế ảnh hưởng đến bảo tồn hệ sinh thái, đa dạng sinh học, cảnh quan môi trường; không ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của các thửa đất liền kề; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính; tuân thủ pháp luật có liên quan.
Theo khoản 4 Điều 218, các trường hợp kết hợp với thương mại, dịch vụ tại điểm e khoản 1 phải lập phương án sử dụng đất trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Thời hạn sử dụng
Điều 171 xếp cả hai vào nhóm sử dụng ổn định lâu dài:
- Khoản 7 — đất tín ngưỡng;
- Khoản 8 — đất tôn giáo quy định tại khoản 2 Điều 213.
Lưu ý phạm vi khoản 8: chỉ phần đất tôn giáo được giao không thu tiền theo khoản 2 Điều 213 mới thuộc nhóm ổn định lâu dài. Phần thuê đất theo khoản 3 Điều 213 thì có thời hạn.
Cấp giấy chứng nhận
Điều 145 quy định việc cấp Giấy chứng nhận cho tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc đang sử dụng đất.
Với cộng đồng dân cư, khoản 9 Điều 137 quy định: cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là đình, đền, miếu, am, nhà thờ họ, công trình tín ngưỡng khác; chùa không thuộc khoản 1 Điều 213; hoặc đất nông nghiệp theo khoản 4 Điều 178 — mà đất đó không có tranh chấp và có giấy tờ xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã là đất sử dụng chung cho cộng đồng dân cư — thì được cấp Giấy chứng nhận.
Bồi thường khi thu hồi
Điểm b khoản 1 Điều 95 công nhận cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là chùa, đình, đền, miếu, am, nhà thờ họ, công trình tín ngưỡng khác thuộc diện được bồi thường về đất, với điều kiện đất không tranh chấp và được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng.
Điểm d khoản 1 Điều 95 công nhận tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc được Nhà nước cho phép hoạt động, đang sử dụng đất mà không phải đất do Nhà nước giao, cho thuê, và không phải đất nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho từ ngày 01/7/2004 trở về sau.
Xây dựng công trình tôn giáo, tín ngưỡng
Khoản 9 và khoản 10 Điều 79 xếp việc xây dựng công trình tín ngưỡng (đình, đền, am, miếu và công trình tín ngưỡng hợp pháp khác) và công trình tôn giáo (trụ sở tổ chức tôn giáo, chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh đường, thánh thất, trường đào tạo người chuyên hoạt động tôn giáo, tượng đài, bia, tháp) vào các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.
Quy định chung là một chuyện, hồ sơ cụ thể của ông bà lại là chuyện khác. Dịch vụ luật sư đất đai của chúng tôi đọc giấy tờ trước và nói rõ vụ việc đang đứng ở đâu.
Căn cứ pháp lý
Điều 212, Điều 213, Điều 218, Điều 171 Luật Đất đai 2024 (Luật số 31/2024/QH15).

