Có hai loại hòa giải khác nhau: hòa giải ở cơ sở chỉ được khuyến khích, còn hòa giải tại Tòa án là một bước trong thủ tục.
Trả lời ngắn: Phải phân biệt hai loại. Hòa giải ở cơ sở — Nhà nước và xã hội khuyến khích, không bắt buộc. Hòa giải tại Tòa án — là một bước Tòa án tiến hành sau khi đã thụ lý đơn.
Căn cứ pháp lý
Điều 52 — Khuyến khích hòa giải ở cơ sở:
Nhà nước và xã hội khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn. Việc hòa giải được thực hiện theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở.
Điều 54 — Hòa giải tại Tòa án:
Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Khác nhau ở chỗ nào
- Hòa giải ở cơ sở (Điều 52): diễn ra ở thôn, tổ dân phố, trước khi ra Tòa. Điều luật dùng chữ "khuyến khích" — đây không phải điều kiện để được nộp đơn.
- Hòa giải tại Tòa án (Điều 54): diễn ra sau khi Tòa án đã thụ lý đơn. Cách tiến hành theo pháp luật tố tụng dân sự.
Kết quả hòa giải tại Tòa án có ý nghĩa trực tiếp: khoản 1 Điều 56 chỉ đặt ra việc Tòa án giải quyết cho ly hôn trong tình huống hòa giải tại Tòa án không thành.
Hòa giải ở cơ sở: khuyến khích, không bắt buộc
Điều 52 dùng đúng chữ “khuyến khích”: Nhà nước và xã hội khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn, và việc hòa giải được thực hiện theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở.
Không có quy định nào biến bước này thành điều kiện để Tòa án thụ lý đơn. Không qua tổ hòa giải ở thôn, tổ dân phố thì đơn vẫn nộp được.
Hòa giải tại Tòa án: bắt buộc, nhưng có ngoại lệ
Điều 54 buộc Tòa án tiến hành hòa giải sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 205 Bộ luật Tố tụng dân sự nói cùng nội dung ở phía tố tụng: trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
Khoản 2 Điều 205 đặt hai nguyên tắc cho việc hòa giải: tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình; và nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Nghĩa là bắt buộc ở đây là bắt buộc tổ chức phiên hòa giải, không phải bắt buộc phải thỏa thuận được.
Bốn trường hợp không tiến hành hòa giải được
Điều 207 liệt kê:
- Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt;
- Đương sự không thể tham gia hòa giải vì có lý do chính đáng;
- Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự;
- Một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải.
Ngoài ra Điều 206 nêu những vụ án không được hòa giải, nhưng hai trường hợp ở đó — đòi bồi thường thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, và vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội — không liên quan đến ly hôn.
Hòa giải trong việc thuận tình có mục tiêu ngược lại
Với thuận tình ly hôn, khoản 2 Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự buộc Thẩm phán tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ và giải thích về quyền, nghĩa vụ giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con, về trách nhiệm cấp dưỡng. Hòa giải thành ở đây nghĩa là hai người quay lại với nhau, và khi đó khoản 3 quy định Thẩm phán ra quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu.
Chỉ khi hòa giải đoàn tụ không thành thì Thẩm phán mới ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn theo khoản 4.
Hòa giải thành thì bao lâu có quyết định
Khoản 1 Điều 212 quy định hết thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến thì Thẩm phán mới ra quyết định công nhận sự thỏa thuận; Tòa án gửi quyết định cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp trong 05 ngày làm việc.
Điều bài viết này không trả lời được
Điều 54 dẫn chiếu sang pháp luật tố tụng dân sự, nên các chi tiết như bao nhiêu phiên hòa giải, trường hợp nào không tiến hành hòa giải được, hậu quả khi vắng mặt… đều nằm ở Bộ luật Tố tụng dân sự — ngoài phạm vi văn bản bài này dẫn.
Tình huống của bạn phụ thuộc vào chứng cứ cụ thể. Bài viết chỉ nêu quy định chung; muốn biết vụ việc của mình được giải quyết ra sao thì cần luật sư đọc hồ sơ.
Nếu ông bà muốn có người đọc giấy tờ trước khi quyết định, dịch vụ luật sư hôn nhân và gia đình của chúng tôi xem trước hồ sơ và nói rõ vụ việc đứng ở đâu.
Gửi hồ sơ vụ việc hoặc gọi số ở chân trang trong giờ làm việc.
