Tài sản có trước khi kết hôn, được thừa kế riêng hoặc tặng cho riêng đều là tài sản riêng. Nhưng có một trường hợp định đoạt phải hỏi ý kiến người kia.
Trả lời ngắn: Năm nhóm. Và có một tình huống mà dù là của riêng, bạn vẫn phải hỏi ý kiến vợ hoặc chồng trước khi bán.
Năm nhóm luật liệt kê
Khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình liệt kê tài sản riêng gồm:
- Tài sản mỗi người có trước khi kết hôn;
- Tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân;
- Tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo các điều 38, 39 và 40 của Luật này;
- Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng;
- Tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng.
Nhóm thứ hai có chữ đáng chú ý: riêng. Thừa kế chung hoặc tặng cho chung cả hai vợ chồng thì không thuộc nhóm này. Trong thực tế, cách ghi trong văn bản tặng cho hoặc di chúc quyết định tài sản đó là của riêng hay của chung.
Tài sản sinh ra từ tài sản riêng
Khoản 2 Điều 43 nêu một quy tắc gọn: tài sản được hình thành từ tài sản riêng cũng là tài sản riêng.
Bán mảnh đất có trước khi cưới rồi lấy tiền đó mua căn nhà — căn nhà vẫn là của riêng, vì nó hình thành từ tài sản riêng.
Nhưng hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân thì không theo quy tắc ấy. Khoản 2 dẫn chiếu sang khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 để xác định. Đây là hai điều luật riêng; bài viết này không diễn giải chúng vì chưa đối chiếu bản gốc, nhưng cần biết rằng tiền cho thuê nhà riêng không đương nhiên là của riêng.
Ba quyền với tài sản riêng
Khoản 1 Điều 44 trao đủ ba quyền của chủ sở hữu: chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình. Kèm theo đó là quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối chung.
Việc nhập là tự nguyện. Không ai buộc được người kia đưa tài sản trước hôn nhân vào khối chung, và cũng không có mốc thời gian nào khiến nó tự chuyển thành của chung.
Khi một người không tự quản lý được
Khoản 2 Điều 44 xử lý tình huống ốm đau, đi xa, mất năng lực: nếu vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác, thì bên kia có quyền quản lý.
Kèm điều kiện: việc quản lý phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản. Quản lý không phải là định đoạt — người quản lý giữ và trông nom, không đương nhiên được bán.
Nợ riêng trả bằng tài sản riêng
Khoản 3 Điều 44 nêu nguyên tắc ngắn gọn: nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.
Đây là mặt trái của quyền sở hữu riêng. Giữ tài sản riêng thì cũng gánh nợ riêng bằng chính tài sản ấy, không lấy khối chung ra trả.
Ngoại lệ: nguồn sống duy nhất của gia đình
Khoản 4 Điều 44 là chỗ nhiều người không biết. Nếu vợ hoặc chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản đó là nguồn sống duy nhất của gia đình, thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ.
Ví dụ dễ hình dung: căn nhà có trước khi cưới, cho thuê, và tiền thuê là thu nhập duy nhất nuôi cả nhà. Bán căn nhà ấy phải có sự đồng ý của người kia — dù nó đứng tên một mình.
Điều kiện ở đây rất hẹp: phải là nguồn sống duy nhất, không phải nguồn thu chính, cũng không phải một trong vài nguồn.
Bốn việc nên làm để tránh tranh chấp về sau
- Giữ giấy tờ chứng minh thời điểm có tài sản — hợp đồng mua bán, sổ đỏ, sao kê ngân hàng trước ngày đăng ký kết hôn.
- Ghi rõ "tặng cho riêng" trong văn bản tặng cho, nếu bố mẹ muốn cho riêng con mình.
- Ghi rõ nguồn tiền khi mua tài sản mới bằng tiền bán tài sản riêng — đây là chỗ khó chứng minh nhất khi đã qua nhiều năm.
- Lập văn bản khi nhập tài sản riêng vào chung, để sau này không tranh cãi về việc đã nhập hay chưa.
Điều bài viết này không trả lời được
Bài viết không kết luận được một tài sản cụ thể là của chung hay của riêng — điều đó phụ thuộc vào giấy tờ, dòng tiền và cách ghi trong từng văn bản. Bài cũng không xác định được hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng thuộc về ai, vì phần đó dẫn chiếu sang hai điều luật mà tôi chưa đối chiếu.
Cần luật sư đọc hồ sơ tài sản, xem dịch vụ luật sư hôn nhân gia đình.
Căn cứ pháp lý
Điều 43 và Điều 44 Văn bản hợp nhất 121/VBHN-VPQH (Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13).
